Đặc điểm tôm sú

Bởi: Admin

08/10/2018

299

Tôm sú có lợi thế kích thước lớn, chất lượng thịt ngon, mùi vị giống tôm hùm được nhiều người ưa chuộng, nhu cầu về tôm sú ở trong nước và thế giới đều cao.

 

Đặc điểm

Tôm sú (tên khoa học: Penaeus monodon); trên thế giới, tôm sú tự nhiên phân bố từ bờ đông châu Phi, bán đảo Ả Rập, đến tận Đông Nam Á và biển Nhật Bản; phía Đông của Australia, Hawaii và bờ biển Đại Tây Dương của nước Mỹ.

Trong số các loài tôm thuộc họ tôm he (Penaeid) thì tôm sú là loài có tăng trưởng nhanh nhất và khả năng thích ứng tốt nhất với các điều kiện canh tác. Từ xa xưa, tôm sú đã được nuôi phổ biến, kỹ thuật nuôi thâm canh nhanh chóng lan rộng khắp châu Á. Trong những năm 1980, năng suất nuôi tôm sú thâm canh khoảng trên 10 tấn/ha, cỡ tôm 30 g/con, sử dụng tôm bố mẹ tự nhiên. Tại Việt Nam, tôm sú được nuôi nhiều tại các tỉnh khu vực ĐBSCL.

 

Tập tính sống

Ngoài tự nhiên, tôm sú sinh sống ở nơi chất đáy là bùn pha cát với độ sâu từ ven bờ đến 40 m nước. Nhiệt độ thích hợp cho tôm sú sinh trưởng trong khoảng 18 - 300C. Khi nhiệt độ quá giới hạn chịu đựng thì tôm sẽ bị rối loạn sinh lý và chết (với các biểu hiện như cong cơ, đục cơ, tôm ít hoạt động, ngừng ăn, tăng cường hô hấp). Độ mặn thích hợp cho tôm khoảng 5 - 34‰; pH trong khoảng 7,5 - 8,5 và dao động trong ngày không quá 0,5. Độ kiềm thích hợp cho tôm sú là 80 - 120 mg/l. Độ trong khoảng 30 - 40 cm. Các chất khí hòa tan: hàm lượng ôxy, CO2, H2S ở mức ổn định.

 

Dinh dưỡng

Tôm sú là loài ăn tạp, ở giai đoạn trưởng thành chúng thích các động vật sống và di chuyển chậm hơn là xác thối rữa hay mảnh vụn hữu cơ, đặc biệt ưa ăn giáp xác, thực vật dưới nước, mảnh vụn hữu cơ, giun nhiều tơ, loại 2 mảnh vỏ, côn trùng. Ngoài ra, chúng có thể ăn các loại thức ăn công nghiệp. Ở giai đoạn ấu trùng, tôm bắt mồi thụ động bằng các phụ bộ nên thức ăn phải phù hợp với cỡ miệng. Các loại thức ăn chúng ưu thích là tảo khuê (Skeletonema, Chaetoceros), luân trùng (Brachionus plicatilis, Artemia), vật chất hữu cơ có nguồn gốc động và thực vật. Tiếp đến giai đoạn tôm bột, tôm sử dụng các loại thức ăn như giáp xác nhỏ, ấu trùng (Ostracoda, Copepoda, Mysidacea), các loại nhuyễn thể (Mollucs), giun nhiều tơ (Polychaeta). Trong hai giai đoạn này chúng cũng có thể ăn các loại thức ăn được chế biến sẵn. Ở ngoài tự nhiên, tôm sú bắt mồi nhiều hơn vào thời điểm thủy triều rút. Khi nuôi trong ao, hoạt động bắt mồi nhiều vào sáng sớm và chiều tối. Tôm dùng 2 càng để bắt mồi sau đó đưa thức ăn vào miệng để gặm, thời gian tiêu hóa thức ăn trong dạ dày là khoảng 4 - 5 giờ.

 

Sinh trưởng

Tôm sú là loài có đặc điểm sinh trưởng nhanh, 3 - 4 tháng có thể đạt cỡ bình quân 40 - 50 g/con. Trong quá trình tăng trưởng, khi trọng lượng và kích thước tăng lên mức độ nhất định, tôm phải lột bỏ lớp vỏ cũ để lớn lên. Sự lột xác thường xảy ra vào ban đêm. Hiện tượng lột xác có thể quan sát dễ dàng trong bể: Lớp biểu bì giữa khớp đầu ngực và phần bụng nứt ra, các phần phụ của đầu ngực rút ra trước, theo sau là phần bụng và các phần phụ phía sau, rút ra khỏi lớp vỏ cứng, với động tác uốn cong mình toàn cơ thể. Lớp vỏ mới mềm sẽ cứng lại sau 1 - 2 giờ với tôm nhỏ, 1 - 2 ngày đối với tôm lớn.

 

Sinh sản

Tôm sú đực nhỏ hơn và trưởng thành trước tôm cái, vào mùa giao phối con cái lột xác không bơi mà nằm sát đáy, con đực đến và bắt đầu giao phối. Tinh trùng của con đực sẽ chuyển sang túi chứa tinh trùng của con cái, sau đó buồng trứng của con cái sẽ phát triển. Sau khi giao phối, con cái hầu như không lột xác nữa và cũng không phát triển kích thước.

Tôm sú thường đẻ trứng vào ban đêm lúc gần sáng, mỗi tôm mẹ thường đẻ 300.000 - 1.200.000 trứng (tôm sú tự nhiên). Trứng được thụ tinh sẽ nở thành ấu trùng, sau nhiều lần lột xác ấu trùng biến thái qua các giai đoạn: Trứng => Nauplius (N): giai đoạn ấu trùng không đốt trải qua 6 lần lột xác thành 6 thời kỳ từ N1 - N6 kéo dài  36 - 51h => Protozoea (Z): qua 3 lần lột xác chia làm 3 thời kỳ Z1, Z2, Z3: kéo dài 105 - 120h => Mysis (M): 3 thời kỳ kéo dài 72h => Postlarvae (P): cấu hình hoàn toàn giống tôm trưởng thành => Tiền trưởng thành: phát triển mạnh  => Tôm trưởng thành: bắt đầu sinh sản.

 

Con giống

Bước đột phá đầu tiên trong công nghệ nuôi tôm diễn ra ở Nhật Bản vào cuối những năm 1930. Khi TS Motosaku Fujinaga, Nhật Bản thành công trong việc kích thích sinh sản cho tôm he Nhật Bản (Penaeus japonicus) từ ấp nở trứng và ương nuôi ấu trùng từ giai đoạn Nauplius sang Mysis nhờ sử dụng tảo silic. Năm 1970, công nghệ của Nhật Bản đã được chuyển giao sang các nước khác ở châu Á và châu Mỹ. Ở Việt Nam, trong khoảng thời gian 1984 - 1985, tôm sú bắt đầu được sản xuất thành công tại các tỉnh miền Trung. Ở ĐBSCL, việc sản xuất các loài tôm giống bản địa bắt đầu vào năm 1988 và sau đó đã chuyển đổi phần lớn sang tôm sú vào năm 1997.

Nguồn giống bố mẹ tôm sú chủ yếu phụ thuộc vào đánh bắt tự nhiên và cũng có một số đơn vị đã gia hóa tôm bố mẹ cung cấp ra thị trường. Hiện, cả nước có 2.422 cơ sở sản xuất giống tôm nước lợ, trong đó, 1.861 cơ sở sản xuất giống tôm sú.

 

Hình thức nuôi

Hiện, tôm sú được nuôi với 5 hình thức (thâm canh - bán thâm canh, tôm - lúa, tôm - rừng, quảng canh cải tiến, quảng canh kết hợp). Ở khu vực ĐBSCL, diện tích tôm sú chiếm trên 90% tổng diện tích nuôi tôm nước lợ toàn vùng (559.222 ha); tập trung ở các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang. Tôm sú được nuôi đa dạng về phương thức, đặc biệt phù hợp với phần lớn diện tích nuôi tôm nước lợ của nước ta như quảng canh cải tiến, tôm - rừng, tôm - lúa. Đây là các mô hình đầu tư ít, sản phẩm có giá ổn định ở mức cao. Trong mô hình tôm rừng - kết hợp: có 60% rừng ngập mặn - 40% mặt nước (xen kẽ) để nuôi ghép các đối tượng nước lợ trong đó tôm là chủ yếu với mật độ thả 2 - 5 con/m2. Năng suất khoảng 180 - 200 kg/năm, trong đó tôm thả chiếm 70 - 80%. Mô hình quảng canh, tôm được nuôi ở các đầm, thả giống với mật độ 2 - 5 con/m2, còn quảng canh cải tiến mật độ là 6 - 10 con/m2, dựa vào thức ăn tự nhiên hoặc bổ sung không đáng kể thức ăn. Năng suất 200 - 250 kg/ha đối với mô hình quảng canh hoặc 450 - 500 kg/ha đối với mô hình quảng canh cải tiến. Bên cạnh đó, một số nơi nuôi xen kẽ vụ lúa, vụ tôm và nuôi kết hợp với cá rô phi, cua và rong câu.

>> TS Phan Thanh Lâm, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản II cho biết: “Nuôi thủy sản trong rừng ngập mặn hiện nay chủ yếu nuôi phương thức quảng canh dựa vào giống tự nhiên, không cho ăn và nuôi quanh năm; nhưng năng suất không ổn định và hiệu quả kinh tế thấp và giảm dần khi tuổi cây tăng. Vì vậy, người nuôi nên áp dụng việc thả giống bổ sung tôm, cua, cá… Các đối tượng nuôi được thu tỉa thả bù thường xuyên theo con nước và có bổ sung thức ăn. Mật độ thả giống bình quân 3 - 5 con/m2”.

Diệu Châu

Hãy là người đầu tiên bình luận cho bài này