Huyết tương trong thức ăn của tôm

Bởi: Admin

26/03/2019

330

Tới nay, sử dụng huyết tương (plasma) trong thức ăn thủy sản vẫn bị hạn chế do giá quá cao so với các loại protein khác. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu đã chứng minh được hiệu quả to lớn của huyết tương lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm.

Kiểm tra thức ăn trong sàng

Bột huyết tương (SDP) được sử dụng phổ biến trong thức ăn chăn nuôi heo và thú cưng do những lợi ích mà nó đem lại còn lớn hơn nhiều so với chi phí bỏ ra. SDP được kỳ vọng tạo hiệu quả tích cực tương tự lên hệ thống miễn dịch và tiêu hóa dinh dưỡng ở cá và tôm nuôi giai đoạn khởi đầu. Trong nghiên cứu này, các chuyên gia cũng tập trung vào những hiệu quả của huyết tương khi được sử dụng thử nghiệm trong thức ăn của tôm.

 

Immunoglobulins trong SDP

Dịch bệnh do các vi khuẩn cơ hội gây ra, như Vibrio spp vẫn đang đe dọa ngành tôm toàn cầu. Đây là lý do quan trọng dẫn đến tình trạng sử dụng kháng sinh tràn lan trong nuôi tôm. Nhiều sản phẩm được tạo ra để giảm sự xuất hiện của Vibrio trong đường ruột và gan tụy tôm; song song đó là giải pháp tăng sức đề kháng cho vật nuôi. SDP có thể là một trợ thủ đắc lực trong chiến lược tăng đề kháng cho tôm thông qua những tác động lên đường ruột, ngoài vai trò là một protein dễ tiêu hóa.

Immunoglobulin là những phức hợp protein rất nhạy nhiệt. Bởi vậy, câu hỏi thường được đặt ra là liệu chế biến thức ăn dưới dạng nén (pellet) hay ép đùn có gây ra tác động tiêu cực lên chức năng sinh học của SPD hay không. Trong nghiên cứu dưới đây, tác động nhiệt lên chức năng của immunoglobulins trong SDP được kiểm tra bằng cả hai cách: bổ sung trực tiếp SDP vào hỗn hợp nguyên liệu thức ăn và sau đó xử lý nhiệt suốt quá trình pelleting (90 - 95°C); và cách thứ 2 là giảm nhiệt sau khi pelleting (20°C) rồi phủ SPD lên thức ăn.

 

Thử nghiệm tăng trưởng

Thử nghiệm tăng trưởng được thực hiện trong 6 tuần, gồm 5 nghiệm thức (Bảng 1). Chi tiết về danh sách nguyên liệu và thành phần trong bảng 2. Thức ăn được pelleting thành viên 2 mm. Có 3 chế độ ăn khác nhau, gồm:

*Chế độ đối chứng, chứa hàm lượng cao bột cá.

*Chế độ Plasma 2P (nén) với 2% bột cá được thay thế bằng 2% Plasma 70P (70% protein, Sonac, Hàn Lan).

*Chế độ Plasma 2C (phủ): 2% Plasma 70P được phủ chân không sau quá trình pellet ở nhiệt độ thấp.

Plasma được phủ lên thức ăn có cấu tạo tương tự thức ăn đối chứng nhưng tỷ lệ bột cá thấp hơn 2%.

Có 5 nghiệm thức trong bảng 1. Thức ăn đối chứng không chứa plasma. Hai nhóm còn lại chứa plasma (cả pellet hoặc phủ) suốt 3 tuần đầu tiên theo chế độ dinh dưỡng thông thường (chế độ đối chứng) và 2 nhóm còn lại có chứa plasma suốt giai đoạn cho ăn trong toàn bộ 6 tuần (cả pellet và phủ).

Mỗi nghiệm thức lặp lại 4 lần. Thử nghiệm được thực hiện trong các thùng có dung tích 60 L. Trong số này có 20 thùng, mỗi thùng thả 25 tôm thẻ chân trắng trọng lượng 1,7 g. Toàn bộ các thùng này được đặt trong một bể lớn. Bằng cách này, tất cả các thùng đều có chất lượng nước như nhau. Chất lượng nước trong bể lớn được duy trì bằng biofloc. Mỗi thùng được trang bị một thiết bị cho ăn tự động.

 

Hiệu suất tăng trưởng

Kết quả cho thấy, sau 3 tuần bổ sung plasma, tăng trưởng của tôm không có dấu hiệu thay đổi nào. Tuy nhiên, sau 6 tuần, vào cuối thử nghiệm, tăng trưởng của nhóm tôm bổ sung 2% plasma vào thức ăn đã có tín hiệu thay đổi tích cực. (Hình 1 và 2).

Sau 3 tuần, tôm được cho ăn plasma dạng pellet đạt tỷ lệ sống cao hơn nhóm không ăn plasma khoặc ăn plasma phủ. Sau 6 tuần, tôm được cho ăn plasma nén tiếp tục đạt tỷ lệ sống cao hơn. Tỷ lệ sống cao vẫn tiếp tục duy trì đến khi kết thúc thử nghiệm, dù việc sử dụng plasma đã dừng sau 3 tuần.

 

Tiêu hóa

Hai bể hình nón được sử dụng để so sánh hiệu quả của thức ăn đối chứng với plasma 2P. Tôm được cho ăn 1 g thức ăn, 4 lần/ngày. Phân tôm được thu gom 2 lần/ngày. Lượng phân thu gom từ tôm ăn bổ sung plasma luôn thấp hơn lượng phân từ nhóm tôm ăn theo chế độ đối chứng.

 

Mô học

10 con tôm từ mỗi thử nghiệm được nhặt ra để phân tích mô học tại IMAQUA ở Ghent, Bỉ. Hình 4 cho thấy hiệu quả rõ ràng của chiều cao biểu mô khi plasma được bổ sung vào chế độ ăn. Hiệu quả này là lâu dài, dù tôm chỉ được cho ăn plasma trong 3 tuần và sau đó lại ăn theo chế độ đối chứng không chứa plasma.

 

Phụ gia tiềm năng

Tôm được cho ăn theo chế độ dinh dưỡng bổ sung SDP đạt kết quả tăng trưởng tốt hơn bất kể là bổ sung SDP theo phương pháp nào (trộn trước khi nén hoặc phủ sau khi nén thức ăn).

Tôm ăn SDP tiêu hóa tốt hơn nên thải phân ít hơn. Tỷ lệ sống của nhóm tôm được bổ sung plasma phủ không khác biệt so với nhóm tôm đối chứng. Nhưng với nhóm tôm được cho ăn plasma trộn lẫn thức ăn trước khi nén, dễ thấy tỷ lệ sống được cải thiện rõ nét. Ngoài ra, bổ sung plasma vào chế độ ăn cho tôm trong 3 hoặc 6 tuần còn làm tăng chiều cao biểu mô.

Kết quả nghiên cứu trên cũng khẳng định những hiệu quả tích cực của SDP lên hiệu suất tăng trưởng, tỷ lệ sống và hình thái học vách đường ruột của tôm. Lời khuyên đưa ra sau nghiên cứu là nên bổ sung plasma vào quá trình sản xuất thức ăn, thay vì chỉ phủ plasma lên viên thức ăn sau quá trình nén để đạt hiệu quả chăn nuôi tốt hơn. Từ những sự khác nhau về hiệu suất tăng trưởng; tuy nhiên, lại chưa rõ ràng rằng nén hay phủ plasma sẽ tốt hơn. Tuy nhiên, cũng có nhiều lo ngại đến sự rủi ro immunoglobulin sẽ bị phá hủy bởi nhiệt suốt quá trình nén thức ăn. Nhưng kết quả thu được từ nghiên cứu này đã hóa giải được sự lo ngại này khi chỉ ra rằng quá trình nén viên (pelleting) không phá hủy chức năng của plasma trong khi một số plasma dễ bị hao hụt do rò rỉ khi được phủ lên viên thức ăn dẫn đến hiệu quả thấp hơn plasma nén.

Những hiệu quả khả quan từ thử nghiệm này vẫn cần phải được nghiên cứu thêm về khoảng thời gian bổ sung plasma vào công thức thức ăn cho tôm. Dựa trên nghiên cứu, có thể thấy rằng chúng ta có thể bổ sung plasma vào chế độ ăn của tôm thẻ. Sử dụng SDP có thể giúp làm giảm nhu cầu sử dụng kháng sinh trong nuôi tôm, giúp tôm tăng trưởng tốt hơn, tỷ lệ sống cao hơn và tăng chiều dài biểu mô. Theo cách này, plasma có thể là một sự lựa chọn rất bền vững.

Eric De Muylede

Chuyên gia dinh dưỡng tôm, Công ty CreveTec, Bỉ

Hãy là người đầu tiên bình luận cho bài này