Kỹ thuật ương tôm hùm giống

Bởi: Admin

20/06/2019

167

Khi tôm còn nhỏ, kém thích nghi môi trường, cần có chế độ ương dưỡng tốt, để hạn chế tối đa số lượng hao hụt.

Ảnh minh họa

Vị trí

Lựa chọn vị trí cách xa vùng cửa sông để tránh ảnh hưởng của nước ngọt, nhất là khi mưa lũ. Vùng không bị ảnh hưởng của bão, sóng lớn, không bị ảnh hưởng của nước thải từ các hoạt động dân sinh, công nghiệp và nông nghiệp. Vùng biển có trao đổi nước tốt thể hiện thông qua thủy triều tương đối lớn và các dòng chảy, đặc biệt đáy không có tích tụ nhiều mùn bã hữu cơ. Độ sâu tối thiểu lúc triều thấp là 1,5 m (nuôi bể, lồng chìm) và 3 m (lồng nổi). Đặc biệt, vị trí cần phải dễ đi lại và thuận tiện cho vận chuyển.

 

Lồng nuôi

Hệ thống công trình ương nuôi tôm hùm giống gồm có hệ thống lồng và hệ thống bể. Hệ thống lồng ương bao gồm lồng chìm khối hộp chữ nhật, lồng nổi khối hộp chữ nhật, lồng nổi trụ tròn. Hệ thống bể ương gồm bể tuần hoàn nước và bể thay nước (đa phần dạng khối hộp chữ nhật).

Với các hệ thống lồng ương hiện tại, lồng nổi trụ tròn được xem là hiệu quả hơn khi xét về sinh trưởng và mức độ đồng đều của tôm hùm giống. Hệ thống bể tuần hoàn khép kín đảm bảo tỷ lệ sống cao nhưng sinh trưởng còn kém, điều này đòi hỏi phải có được thức ăn viên tốt và hệ thống bể được lắp đặt đạt tiêu chuẩn.

 

Con giống

Tôm hùm giống cần phải có nguồn gốc rõ ràng, có giấy chứng nhận kiểm dịch do cơ quan có thẩm quyền cấp. Tôm giống phải khỏe mạnh, cùng kích cỡ, cùng loài. Tôm bơi lội nhanh nhẹn, không có dấu hiệu mắc các bệnh như đỏ thân, long đầu, bệnh sữa.

Với tôm giống lớn hơn, nếu vận chuyển theo cách thông thường (đóng túi, bơm ôxy, giữ lạnh) thì rủi ro cũng cao. Các nghiên cứu gần đây cho thấy, việc áp dụng thuốc gây mê AQUI-S trong vận chuyển tôm hùm cho thấy: AQUI-S giúp tôm hùm hôn mê trong suốt thời gian vận chuyển, qua đó làm giảm nhu cầu trao đổi chất, giảm phát thải NH3 gây độc. Ngoài ra, AQUI-S với liều lượng thấp đã không gây hại cho tôm hùm cũng như người sử dụng.

 

Thức ăn

Hiện, người nuôi chủ yếu sử dụng thức ăn tươi làm thức ăn cho tôm hùm giống. Thức ăn tươi thường được sử dụng là giáp xác (cua, ruốc), cá biển (cá liệt), động vật thân mềm hai mảnh vỏ (vẹm xanh) và bọn chân bụng (ốc bươu vàng).

Những nghiên cứu gần đây cho thấy tôm hùm giống, đặc biệt tôm hùm xanh tiếp nhận thức ăn viên ẩm dễ dàng. Tuy nhiên, việc ương giống tôm hùm bằng thức ăn viên chủ yếu thành công trong hệ thống bể, còn trong điều kiện lồng thì mới được ghi nhận phần nào.

Với thức ăn tươi, trong ương tôm hùm giống bằng lồng, tôm trắng được cho ăn 100% giáp xác, những tháng ương nuôi sau đó tiếp tục cho ăn 70% giáp xác + 10% cá biển + 10% thân mềm + 10% ốc bươu vàng; đó là khâu kỹ thuật cơ bản trong Quy trình công nghệ ương nuôi tôm hùm giống bằng lồng ngoài biển từ tôm trắng (0,25 - 0,3 g/con) lên giống (15 - 20 g/con) đạt tỷ lệ sống trên 85% và sạch một số bệnh thường gặp.

Tính an toàn của thức ăn rất quan trọng, đặc biệt là nguồn thức ăn tươi, nhất là cua biển. Trong tự nhiên, tôm hùm không mang mầm bệnh sữa nhưng cua biển lại mang mầm bệnh này (Jones, Per. Comm., 2008). Cua biển lại là loại thức ăn phổ biến trong ương tôm hùm vì chúng cho tốc độ tăng trưởng rất nhanh. Vì vậy, trong quá trình chuẩn bị thức ăn cho tôm hùm giống, khi lật mặt bụng của cua biển, nếu thấy có màu trắng đục như sữa thì con cua đó phải được đưa vào túi đựng rác để chuyển lên bờ đưa ra bãi rác. Những phần bị loại bỏ trong quá trình chuẩn bị thức ăn cho tôm hùm giống (phụ bộ cua, ruộc và vây cá, vỏ ốc...) cũng phải được đưa lên bờ để chuyển ra bãi rác.

Nguyễn Hằng (Tổng hợp)

Hãy là người đầu tiên bình luận cho bài này