Nguyên liệu và chất lượng thức ăn tôm

Bởi: Admin

01/01/1970

333

Sản xuất thức ăn cho tôm nói riêng và thức ăn chăn nuôi nói chung đang gặp nhiều khó khăn trong khâu nguyên liệu. Vậy đâu là hướng đi cho tương lai của thức ăn bền vững?

Giá thức ăn quyết định giá thành sản xuất tôm	 Ảnh: Thanh Ngân

Giá thức ăn quyết định giá thành sản xuất tôm Ảnh: Thanh Ngân

 

Nguồn cung bị động

Thức ăn chiếm tới 60 - 70% chi phí sản xuất và giá thành. Thực tế từ nhiều năm nay, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu một lượng lớn nguyên liệu sản xuất thức ăn và chưa biết đến bao giờ mới thay đổi. Trong đó, có tới 90% nguyên liệu để sản xuất thức ăn tôm (khô đậu tương, lúa mì, ngô, bột xương thịt, bột cá…) đang phải nhập khẩu từ nước ngoài. Trong đó, thị trường nhập khẩu chủ yếu  là Ấn Độ, Mỹ, Argentina, Peru… Theo số liệu thống kê năm 2014, trong số 12,5 triệu tấn thức ăn chăn nuôi tiêu thụ mỗi năm thì lượng nhập khẩu chiếm tới 70%. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tính từ đầu năm cho đến hết tháng 2/2016, nhập khẩu nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi như lúa mì tăng cả lượng và trị giá, lần lượt 139,94% và 96,48% tương đương 703,4 nghìn tấn, trị giá 159,6 triệu USD. Tính riêng tháng 2/2016, nhập khẩu đậu tương 23,1 nghìn tấn, trị giá 9,7 triệu USD; nhập khẩu ngô 486,5 nghìn tấn, trị giá 97,3 triệu USD. Cùng với đó, thị trường sản xuất thức ăn tôm chủ yếu là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nắm giữ (80 - 90% thị phần). Theo các chuyên gia nông nghiệp, do phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu làm cho giá thức ăn tôm trong nước luôn biến động, ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngành thủy sản. Đồng thời, khiến giá thức ăn tôm ở Việt Nam cao hơn khoảng 20% so với các nước trong khu vực. Theo phản ánh của người dân, từ đầu năm đến nay, thức ăn nuôi tôm đã rục rịch tăng giá, mỗi kg thức ăn tăng 500 - 1.000 đồng/kg. Nguyên nhân là do nguyên liệu đầu vào tăng, cụ thể là giá bột cá tăng.

Việc phụ thuộc nhập khẩu nguyên nhân chính được cho là do Việt Nam chưa sản xuất được những thức ăn bổ sung. Bên cạnh đó, sản xuất nông nghiệp trong nước cũng đang có sự mất cân đối, thiếu quỹ đất, thiếu chiến lược phát triển nguồn nguyên liệu, thiếu quy hoạch xây dựng vùng nguyên liệu cho ngành sản xuất thức ăn. Mặt khác, những đề tài nghiên cứu cho lĩnh vực này còn ít, nhỏ lẻ, các viện nghiên cứu trong nước nhìn chung chưa có kết quả nghiên cứu nào thành chuỗi công nghệ phổ biến đại trà vào sản xuất. Vì vậy, các doanh nghiệp phải nhập công nghệ từ nước ngoài.

 

Khó kiểm soát đầu vào

Xem thêm: Đầu vụ nuôi tôm và những vấn đề cần lưu ý

Chất lượng của thức ăn tôm phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu, phương pháp chế biến và sản xuất. Theo PGS.TS. Lại Văn Hùng, Nguyên Trưởng Khoa Nuôi trồng Trường Đại học Nha Trang thì nhu cầu protein trong thức ăn của tôm nuôi rất cao, đặc biệt là tôm sú, vì vậy protein được khẳng định là thành phần quan trọng nhất trong thức ăn tôm. Bột cá, bột tôm, bột mực chứa protein có các thành phần amino axit phù hợp với khả năng tiêu hóa của tôm. Nhưng thực tế hiện nay, nguồn nguyên liệu ngày càng hạn chế, một số doanh nghiệp sản xuất thức ăn cho tôm đã thay thế nguồn nguyên liệu đầu vào bằng bột xương, bột huyết, bột lông vũ khó tiêu, không đáp ứng tối đa nhu cầu dinh dưỡng cho tôm. Trong khi, các cơ quan chức năng quan tâm nhiều hơn đến hàm lượng protein trong thức ăn tôm ít để ý đến nguyên liệu đầu vào. Trong các kết quả kiểm tra đối với thức ăn bổ sung của các đoàn thanh tra Bộ tại ĐBSCL chỉ ra rằng một số lượng đáng kể thức ăn chưa được đăng ký lưu hành trên thị trường, các sai phạm về chất lượng hoặc quảng cáo quá mức tại nhãn sản phẩm diễn ra phổ biến.

Hiện sản phẩm thức ăn nhập khẩu đã được thực hiện kiển tra chất lượng theo từng lô hàng nhập khẩu, tuy nhiên các lô hàng sản xuất trong nước khi lưu thông trên thị trường hầu như không được kiểm tra chất lượng, ngoại trừ khi đăng ký lưu hành. Tuy nhiên, khi đăng ký lưu hành thì các doanh nghiệp lại được tự lựa chọn cơ sở phân tích. Trong nhiều trường hợp mẫu mang đi kiểm tra thì rất tốt, nhưng lại không có chế tài nào để thực hiện kiểm tra chất lượng thức ăn khi lưu thông trên thị trường.

 

Giải pháp

Xem thêm: Nuôi tôm mùa mưa lũ

Để tháo gỡ khó khăn cho ngành sản xuất thức ăn tôm, Việt Nam cần chủ động hơn nữa trong việc đầu tư cho việc sản xuất nguyên liệu, xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển vùng sản xuất nguyên liệu. Các chính sách ưu đãi về vốn, đất sản xuất để các doanh nghiệp đầu tư phát triển vùng nguyên liệu cần được quan tâm. Cần tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng tốt cho doanh nghiệp và người dân. Đồng thời, cần có cơ chế khuyến khích các tập thể, cá nhân xây dựng cầu cảng, hệ thống vận chuyển, nhà kho chuyên dụng để phục vụ cho việc vận chuyển, lưu trữ nguyên liệu… Cùng với đó, để thúc đẩy sản xuất thức ăn trong nước, cần đầu tư nghiên cứu khoa học hiệu quả và hợp tác với các doanh nghiệp mạnh của nước ngoài, chú trọng nghiên cứu những khâu đột phá theo chuỗi sản phẩm: khoáng, vi sinh, enzym, chất tạo màu, tạo mùi… nhằm tìm ra những giải pháp hữu hiệu và mang lại hiệu quả nhất cho ngành sản xuất thức ăn tôm của nước ta, trong tình trạng, nguồn bột cá đang ngày càng trở nên khan hiếm và đắt đỏ.

 

Lê Cung - Nguyễn Nhung

Hãy là người đầu tiên bình luận cho bài này