Quản lý EMS trên toàn thế giới

Bởi: Admin

10/09/2019

111

Mặc dù người nuôi tôm không còn phải quá lo sợ với EMS nữa nhưng dịch bệnh này vẫn có thể bùng phát ở bất cứ quốc gia nào và ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản lượng tôm.

Tổng quan

EMS xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc vào năm 2009, trước khi tấn công Việt Nam vào năm 2010 và North Borneo, Malaysia năm 2011. Năm 2012, Thái Lan chịu tác động mạnh nhất của EMS. EMS gây chết tôm khi mới chỉ 40 ngày tuổi khiến sản lượng tôm giảm mạnh và theo các chuyên gia, sản lượng tôm ước giảm 23% trong năm 2013, tương đương với 1 triệu tấn tôm và nếu giá tôm khoảng 5 USD/kg thì năm 2014 ngành tôm toàn cầu đã thiệt hại 5 tỷ USD. Nguồn cung tôm nguyên liệu thiếu hụt đã đẩy giá tôm kỷ lục trong năm 2014.

 Đến giữa năm 2011, Lightner và cộng sự đã nhận biết một dấu hiệu mô bệnh học mới ở một số tôm EMS được đặc trưng bởi sự bong tróc của các tế bào biểu mô ống gan tụy, cho nên nó được gọi là hội chứng hoại tử gan cấp tính (AHPNS) và sau đó vào năm 2013, TS Trần Hữu Lộc và cộng sự đã phát hiện ra các chủng vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus là tác nhân gây bệnh của AHPNS. Sau đó tên của bệnh đã được đổi thành bệnh hoại tử gan cấp tính (AHPND). Các chủng Vibrio parahaemolyticus, chứa một plasmid độc hại có chứa các gen độc pirA và B (pirAB).

Gần đây, AHPND được báo cáo là do các loài Vibrio khác như Vibrio harveyi, Vibrio campbellii và Vibrio owensii, chúng cũng đã được tìm thấy có chứa các plasmid độc lực giống với pirAB của vi khuẩn V. parahaemolyticus (Han, Tang, Aranguren, & Piamsomboon, 2017; Xiao et al., 2017). Trong nghiên cứu của Sanguanrut và cộng sự, 2018 cho thấy hội chứng chết sớm trên tôm là do nhiều nguyên nhân và AHPND chỉ là một trong số những nguyên nhân đó. Vì lý do này, điều quan trọng là chẩn đoán nguyên nhân gây tử vong trong ao EMS và không đánh đồng nó với AHPND.

EMS được cho là lan truyền theo chiều dọc (bên ngoài trứng) từ tôm bố mẹ đến hậu ấu trùng và cũng có thể chuyển sang tôm qua nước, ăn thịt đồng loại, phân, sinh vật phù du, sinh vật lớn, chim và các màng sinh học. Sau khi bệnh EMS hình thành trong môi trường thì sẽ khó kiểm soát. Quan trọng hơn, người ta nhận thấy rằng kháng sinh không có hiệu quả kháng lại EMS. Các thí nghiệm độ nhạy cảm cho thấy vi khuẩn gây bùng phát EMS đã phát triển đề kháng với toàn bộ các loại thuốc kháng sinh.

 

 

Quản lý EMS

Xây dựng trên các nghiên cứu trước đó phối hợp bởi Liên minh Nuôi trồng Thủy sản Toàn cầu (GAA) đã đưa ra các giải pháp nhằm quản lý kiểm soát EMS gồm:

 - Cần có tôm bố mẹ không nhiễm EMS: Chọn lọc nhân giống để đề kháng với EMS sẽ bao gồm các gia đình có tỷ lệ sống tốt nhất làm đàn bố mẹ cho thế hệ tiếp theo.

- Cải thiện điều kiện trong trại: Để loại bỏ EMS và các tác nhân gây bệnh khác khỏi nước, thiết lập một quần thể vi sinh vật cân bằng, nuôi thả với hậu ấu trùng khỏe mạnh và quản lý chặt chẽ chất lượng nước và chất đáy. Khử trùng bằng clo hoặc ozone loại bỏ nhiều tác nhân gây bệnh. Để tạo ra một quần thể vi khuẩn trưởng thành, probiotic và nuôi ghép có thể giúp ổn định nước. Các đề xuất khác là duy trì biofloc nhẹ đến trung bình, tránh cho ăn quá nhiều và loại bỏ bùn thường xuyên.

- Vận hành ao ương: Các ao ương dùng để giữ hậu ấu trùng cho đến khi chúng lớn hơn và khỏe hơn, đồng thời chắc chắn chúng không có EMS. 10 đến 20 ngày ở trong ao ương, bể hoặc quây lưới cho phép đánh giá tình trạng sức khỏe và bệnh tật.

- Cải thiện cơ sở hạ tầng trang trại với ao nuôi thâm canh đảm bảo an toàn sinh học. Ao nhỏ, sâu được lợp bằng nilon hoặc lưới nhựa cho phép quản lý khử trùng và cho ăn tốt hơn, cũng như kiểm soát tốt hơn chất lượng nước, biofloc và bùn. Năng suất tăng cao (30 - 50 tấn/ha) có thể trang trải cho các khoản đầu tư thêm.

- Xác định các chất phụ gia thức ăn làm giảm tỷ lệ mắc bệnh EMS. Chúng có thể bao gồm các chất ức chế thụ cảm, phytogenic hoặc chất kích thích miễn dịch. Maarten Jay van Schoonhoven và Raquel Tatiane Pereira (Olmix, Hà Lan) đã nghiên cứu về các chất chiết xuất từ tảo và đất sét montmorillonit giúp tăng tỷ lệ sống của tôm đối với EMS. Họ đã phát triển một công nghệ độc đáo nơi một tảo đất sét này được kết hợp với đồng để tăng cường hoạt động tĩnh điện của đất sét và tính chất kháng khuẩn của đồng. “Sự phức tạp duy nhất này tạo ra một hành động hiệp đồng chống lại vi khuẩn gây bệnh và góp phần cải thiện sức khỏe ruột của động vật”. Công nghệ này đã được thử nghiệm tại hai trường đại học dưới sự thách thức của bệnh với hai mầm bệnh phổ biến trong nuôi tôm thẻ chân trắng. Thử nghiệm đầu tiên được tiến hành tại Đại học Kasetsart, Thái Lan và sau một cuộc thử thách với vi khuẩn gây bệnh Vibrio harveyi, tỷ lệ sống của các nhóm tôm khác nhau phụ thuộc vào liều lượng, với tôm được ăn 0,4% thức ăn MFeed có tỷ lệ sống cao nhất, tiếp theo là nhóm tôm được ăn 0,2% thức ăn MFeed. Tại một cuộc thử nghiệm tiếp theo được thực hiện tại trường Đại học Cần Thơ ở Việt Nam, tôm giống PL25 đã phải trải qua một thử nghiệm tiếp xúc với vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus gây ra bệnh EMS. Kết quả cho thấy tỷ lệ sống của các nhóm khác nhau phụ thuộc liều lượng, với tôm được ăn 0,4% thức ăn MFeed có tỷ lệ sống gần 90%, tiếp theo là nhóm nhận được 0,2% thức ăn MFeed trong chế độ ăn. Những kết quả khoa học này hỗ trợ khả năng của MFeed như một chiến lược hiệu quả và bền vững trong quản lý EMS trong tôm thẻ chân trắng.

  • Tích hợp quản lý trang trại là cần thiết: Các hệ thống trại rải rác không thích hợp cho việc kiểm soát cần thiết ở mỗi bước trong quá trình sản xuất. Quản lý khu vực sẽ tránh được việc dùng chung các kênh đầu vào và kênh xả, và cho phép xem xét khả năng lây nhiễm của các hệ sinh thái. Việc tiếp cận với các phòng thí nghiệm địa phương được trang bị tốt sẽ giúp phát hiện EMS tốt hơn.
>> EMS là một dịch bệnh xảy ra nhanh chóng, tỷ lệ chết cao và do nhiều tác nhân gây ra. Do đó, người nuôi cần phải có sự nhìn nhận sâu hơn và toàn diện hơn để quản lý bệnh và tiến đến một ngành tôm bền vững.

Hoàng Ngân

Hãy là người đầu tiên bình luận cho bài này