Quản lý thức ăn hiệu quả

loading...
Bởi: Admin

30/10/2017

148

Hiểu biết về nhu cầu dinh dưỡng cũng như phương pháp quản lý thức ăn phù hợp là yếu tố quyết định thành công vụ nuôi.

 

Thức ăn đảm bảo dinh dưỡng

Nhu cầu protein của tôm thẻ chân trắng không cao. Việc sử dụng thức ăn có hàm lượng protein ở mức 30 - 35% để nuôi tôm thẻ chân trắng được coi là giải pháp tích cực giúp tiết kiệm chi phí, tạo điều kiện để vi khuẩn dị dưỡng phát triển và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Bột cá là nguồn cung cấp protein tốt nhất cho tôm. Bột cá có hàm lượng protein cao, trung bình  45 - 60%, có loại hơn 70% và chủ yếu được làm từ cá biển. Bột mực hoặc bột tôm krill khi được dùng với tỷ lệ thích hợp với bột cá giúp cải thiện khả năng dẫn dụ của thức ăn và tốc độ tăng trưởng của tôm nuôi (Lopez et al., 1998; Guillaume, 1999).

Khi nuôi ở nồng độ muối thấp, tôm sẽ khó khăn hơn trong việc lấy muối khoáng hòa tan trong môi trường nước vì vậy khoáng phải được bổ sung trực tiếp trong khẩu phần ăn. Nếu tôm sống trong môi trường nước có độ mặn cao, nhu cầu về Ca2+, K+ và Mg2+ một phần được đáp ứng. Tuy nhiên, nếu tôm sống trong môi trường có độ mặn thấp K+ thường thiếu hụt cần bổ sung khoảng 1% trong khẩu phần ăn. Lượng P cần bổ sung 1 - 2% trong khẩu phần ăn. Đối với các yếu tố vi lượng, kẽm (Zn) bổ sung chỉ cần ở mức 15 - 18 mg/kg nhưng nếu có phosphorus hữu cơ trong thức ăn ở mức 1,5% thì phải được nâng lên đến 218 mg/kg (Davis et al., 1992). Đồng (Cu) là thành phần cấu tạo lên tế bào máu của tôm. Hàm lượng đồng trong nước lợ và nước biển chỉ ở mức 0,5 - 0,6 mg/l. Ở mức cao, đồng có thể gây độc cho tôm nuôi. Thức ăn nuôi tôm được bổ sung 32 mg/kg đồng có thể cải thiện tốc độ tăng trưởng của tôm khoảng 6% (Davis et al., 1993).

Tôm thẻ chân trắng có thể tiêu hóa tốt carbohydrate. Lượng tinh bột trong thức ăn vì thế có thể lên đến 40% (Cruz et al., 1996).

Nếu năng lượng trong thức ăn quá cao làm giảm khả năng hấp thụ thức ăn và chất đạm tiêu hóa không đủ để tôm phát triển. Vì vậy, hàm lượng lipid trong thức ăn phải <10%, thông thường 6 - 8%.

Vitamin A và K rất cần thiết trong thành phần thức ăn tôm. Dạng Vitamin A được sử dụng bổ sung vào thức ăn là acetace, palmitate, propionate. Hàm lượng Vitamin A bị mất đi khoảng 20% qua quá trình ép đùn, mất 53% sau thời gian bảo quản trong phòng 6 tháng. Vitamin K được bổ sung vào thức ăn dưới dạng muối menadione, menadione sodium bisulfite (50% Vitamin K3), hỗn hợp menadione sodium bisulfite (33% Vitamin K3), menadione dimethylpyrimidinal (45.5% K3). Nhu cầu Vitamin K ở tôm được đề nghị là 5 mg/kg. Khi tôm còn nhỏ, lượng Vitamin C cần có trong mỗi kg thức ăn là 10 g. Tôm càng lớn, nhu cầu Vitamin C càng giảm. Theo kết quả một số nghiên cứu cho thấy, nếu cung cấp Vitamin C dạng ascorbyl-2-polyphosphate ở mức 30 mg/kg thức ăn sẽ giúp tôm cải thiện sức đề kháng, ít bị bệnh do virus hoặc vi khuẩn Vibrio, nhờ đó tăng được tỷ lệ sống trong quá trình nuôi. Hàm lượng Vitamin E cần thiết cho tôm thẻ chân trắng là 99 mg/kg thức ăn (Cuzon et al., 2004).

 

Quản lý thức ăn

Chỉ tiêu về thức ăn

Thức ăn hỗn hợp cho tôm thẻ chân trắng có dạng bột, viên chìm. Viên hình trụ hoặc mảnh đều nhau, bề mặt mịn, kích cỡ theo số hiệu mảnh hoặc dạng của từng loại thức ăn quy định. Không rã trong nước sau 3 giờ. Không chứa các tạp chất như mảnh thuỷ tinh, cát, nấm mốc, ẩm ướt… Thức ăn phải thu hút tôm bắt mồi. Màu sắc nâu vàng đến nâu, đặc trưng của nguyên liệu phối chế, không có mùi men mốc và mùi lạ khác (TCVN 10325 : 2014).

Cho ăn

Tôm thẻ là loài ăn liên tục nên kiểm soát lượng thức ăn là một trong những yếu tố giúp vụ nuôi thành công.

Các tháng tiếp theo, lượng thức ăn có sự thay đổi:

Tôm thẻ chân trắng là loài hoạt động về đêm, vì vậy nên cho ăn 4 lần/ngày, vào buổi tối (lúc 10 giờ), cho ăn bằng 30% tổng lượng thức ăn.

Các loại thức ăn công nghiệp hiện nay đều có thể đáp ứng tốt nhu cầu dinh dưỡng cơ bản của tôm nuôi. Nếu có sự bổ sung của các thành phần vi lượng nêu trên vào thức ăn hoặc có thức ăn tự nhiên trong ao nuôi, tôm sẽ phát triển tốt. Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) của tôm thẻ chân trắng thường chỉ ở mức 1,1 - 1,2. Hiện nay, việc sử dụng máy cho ăn tự động được nhiều người nuôi đánh giá cao với nhưng ưu điểm như: phân phối thức ăn trong bán kính ít nhất là 10 m nên thích hợp với những ao nuôi lớn; Giảm được hệ số FCR; Giảm ô nhiễm nguồn nước. Một máy cho ăn có thể cho ăn khoảng 400.000 - 500.000 con.

Là loài ăn tạp, vì vậy thức ăn tự nhiên, bao gồm các phiêu sinh vật (động vật và thực vật phù du), các mùn bã hữu cơ, các loại thực vật sống trong nước… có vai trò quan trọng. Theo một số kết quả, người ta thấy được dạ dày của tôm thẻ chân trắng nuôi trong ao ở tháng nuôi đầu tiên thường chứa nhiều tảo khuê, đặc biệt là Navicula sp. sống bám trên nền đáy ao.

Kim Tiến

Hãy là người đầu tiên bình luận cho bài này