Sử dụng Artemia hiệu quả cho tôm giống

Bởi: Admin

22/05/2019

100

Ấu trùng Artemia di chuyển chậm, kích cỡ nhỏ, dinh dưỡng cao, chứa nhiều đạm, acid béo không no và dễ tiêu hóa. Đây là nguồn thức ăn quan trọng trong sản xuất tôm giống.

Artemia rất giàu dinh dưỡng cho tôm giống Ảnh: ST

Giá trị dinh dưỡng

Artemia là một loại ấu trùng mới nở, có dinh dưỡng rất cao. Đây là thức ăn giàu đạm, nhiều axit amin, axit béo thiết yếu, các vitamin, khoáng rất tốt cho giai đoạn sinh sản và tạo sắc tố. Vì vậy, chúng rất được ưa chuộng trong các trại sản xuất giống thủy sản nói chung và sản xuất tôm giống nói riêng. Mặt khác, Artemia có thể được dùng “làm vật nhồi sinh học”; nghĩa là thông qua Artemia người ta có thể đưa vào cơ thể vật nuôi các chất dinh dưỡng, các hoạt chất mong muốn thông qua Artemia (bằng cách ngâm hoặc cho ăn), sau đó cho vật nuôi (tôm, cá) ăn Artemia đã được qua xử lý.

 

Lựa chọn Artemia

Trên thị trường hiện tại có rất nhiều loại Artemia (trứng bào xác) với chất lượng khác biệt, để chọn được loại tốt, có thể dựa vào yếu tố kích thước của ấu trùng khi nở. Artemia có kích thước khác nhau tùy thuộc vào nguồn gốc, có thể thay đổi trong khoảng 0,43 - 0,52 mm. Ấu trùng tôm ở giai đoạn Mysis chỉ có thể tiêu hóa được những mồi nhỏ hơn 0,45 mm. Để biết được kích thước ta dùng kính hiển vi đo ít nhất 30 con ấu trùng Artemia rồi lấy giá trị trung bình.

Đặc điểm dinh dưỡng rất quan trọng với Artemia, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng tôm; hàm lượng này thay đổi theo dòng Artemia và điều kiện sống ở nơi sản xuất. Tuy nhiên, Artemia tốt là loại khi nở ra có màu vàng cam đặc trưng, nở khá đồng đều, tỷ lệ nở trên 80%.

 

Nguyên lý quá trình nở

Khi được ấp trong nước biển, bào xác có dạng hình lõm lòng chảo sẽ trương ra và trở thành hình cầu trong vòng 1 đến 2 giờ. Sau khi ngậm nước, vỏ bào xác sẽ vỡ ra, sau đó, phôi tách rời khỏi vỏ và treo lơ lửng ở phía dưới vỏ rỗng (màng nở có thể còn dính với vỏ). Qua màng nở trong suốt, người ta có thể theo dõi sự phát triển qua các giai đoạn của ấu trùng Nauplius. Sau khi màng nở bị vỡ, các ấu trùng bơi lội tự do được phóng thích.

 

Điều kiện môi trường, cơ sở vật chất

Dụng cụ: Bể ấp có đáy hình chóp trong suốt hoặc mờ, thể tích 200 - 1.000 lít. Cân, xô, lưới lọc nước, ống dẫn khí, đá bọt, máy thổi khí, đèn neon.

Yếu tố môi trường: Nhiệt độ ấp: 28 - 300C. Độ mặn: dùng nước biển có độ mặn 30 - 35‰ pH: 8 - 8,5. Mật độ ấp: 3 - 5 g trứng/lít; Ánh sáng: Dùng đèn neon, đặt cách mặt nước bể ấp khoảng 20 cm.

Nguồn nước: Nước được lọc sạch trước khi cho vào bể ấp.

 

Quy trình

Khử trùng: Ngâm lượng trứng cần ấp trong nước ngọt khoảng 1 giờ để trứng hút nước. Sau đó ngâm vào dung dịch thuốc tẩy Zaven với nồng độ 1 lon Artemia sử dụng 1 lít dung dịch nước Zaven 10% hoặc sử dụng Chlorine, nồng độ 200 ppm khoảng 20 - 30 phút hoặc khi quan sát trứng có màu vàng cam là được. Tiến hành rửa sạch lại nhiều lần bằng nước ngọt hoặc bằng nước biển và lọc lấy trứng bằng lưới có kích cỡ 125 µm. Trứng Artemia sau khi đã tẩy vỏ cho vào dung dịch Thiosuphat 0,05% trong 2 - 5 phút, rửa lại bằng nước sạch và sẵn sàng để cho nở ngay hoặc có thể bảo quản trong ngăn mát tủ lạnh ở mức nhiệt 160C là phù hợp, thời gian bảo quản tối đa 3 ngày.

Cho trứng nở: Cân trứng đã khử trùng theo mật độ và cho trứng vào bể ấp hình chóp có nước biển đã lọc sạch độ mặn 15 - 30‰. Sục khí mạnh để cung cấp ôxy và đảo trộn nhằm thúc đẩy quá trình hút nước của trứng và kích thích sự phát triển của phôi. Sau 24 - 36 giờ, trứng sẽ nở.

Thu hoạch: Sau khi nở, các ấu trùng Artemia (Nauplius) được tách khỏi các chất thải khác như vỏ bào xác rỗng, bào xác không nở, cặn bã và vi sinh vật khác…).  Sau khi tắt sục khí khoảng 5 - 10 phút, các vỏ bào xác sẽ nổi lên trên và có thể vớt ra khỏi mặt nước, các Nauplius mới nở tập trung ở đáy (lớp trên), các bào xác không nở và cặn bã nằm ở đáy bể (lớp dưới cùng). Sau đó, lấy ống nhựa mềm nhỏ, hút hết nước phần trên bể, chỉ để lại 5 - 10 cm nước ở đáy chóp của bể không thu.

Thái Thuận (Tổng hợp)

Hãy là người đầu tiên bình luận cho bài này