Sử dụng khoai lang trong nuôi tôm công nghệ biofloc

Bởi: Admin

21/07/2017

790

Hiện, ngoài tình trạng dịch bệnh và ô nhiễm môi trường thì vấn đề tìm nguồn thức ăn tự nhiên có nguồn gốc từ thực vật thay thế cho thức ăn công nghiệp được quan tâm. Mới đây, một nghiên cứu được tiến hành nhằm xác định khả năng thay thế thức ăn viên công nghiệp bằng khoai lang trong nuôi tôm thẻ chân trắng theo công nghệ biofloc.

 

Tác dụng khoai lang

Khoai lang (Ipomoea batatas) là một loài cây nông nghiệp với các rễ củ lớn, chứa nhiều tinh bột, có vị ngọt, là một nguồn cung cấp rau ăn củ quan trọng, được sử dụng trong vai trò của cả rau lẫn lương thực. Khoai lang có chứa 77% nước, 20,1% carbohydrate, 1,6% protein, 3% chất xơ và hầu như không có chất béo. Theo Pandey et al. (2003) khoai lang chứa nhiều khoáng vi lượng và đa lượng như: protein, kali, photpho, canxi, Beta-Carotene chiếm 8509 µg/100 g khối lượng tươi (Beta-Carotene có tác dụng tạo màu sắc) và một số loại vitamin khác giúp tôm tăng trưởng nhanh, tăng cường hệ miễn dịch.

 

Bố trí thí nghiệm

Tôm có chiều dài trung bình là 4,43 + 0,03 cm và khối lượng 0,76 + 0,13 g, mật độ nuôi 150 con/m3 (45 con/300 lít) và thời gian nuôi là 90 ngày. Các bể được đặt ở ngoài trời, có che 2 lớp lưới lan màu đen (1 lớp cách bể khoảng 1,5 m và 1 lớp trên mặt bể để tôm không nhảy ra ngoài). Bể có thể tích 300 lít, độ mặn 15‰, độ kiềm 140 mg/l. Tiến hành với 4 nghiệm thức sau: Sử dụng thức ăn công nghiệp (đối chứng), thay thế 10%, 20% và 30% thức ăn công nghiệp bằng khoai lang. Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần và hoàn toàn ngẫu nhiên.

 

Chăm sóc và quản lý

Tôm được cho ăn 4 lần/ngày (7h00, 10h30, 14h00 và 17h30) bằng thức ăn có độ đạm 40 - 42%, lượng thức ăn dao động 3 - 16% khối lượng thân/ngày. Khoai lang tươi có ruột vàng được bào nhuyễn, sau đó băm nhỏ bằng với kích cỡ viên thức ăn theo kích cỡ tôm và cho ăn theo tỷ lệ thay thế tương ứng của từng nghiệm thức, khoai lang được cho ăn dạng tươi và lượng gấp 2 lần lượng thức ăn viên được thay thế (Trần Minh Bằng và ctv., 2016).

Cùng đó, bón bột gạo định kỳ 4 ngày/lần, lượng bột gạo bón vào bể nuôi được tính theo lượng thức ăn viên và khoai lang cho tôm ăn trong 4 ngày, để đạt tỷ lệ C:N tương ứng 15:1 (Avnimelech, 1999). Trước khi bón, khuấy đều bột gạo với nước 400C theo tỷ lệ 1 bột gạo: 3 nước, sau đó ủ kín trong 48 giờ. Định kỳ 15 ngày/lần kiểm tra độ kiềm và sử dụng NaHCO3 để điều chỉnh lượng kiềm. Trong suốt quá trình nuôi không thay nước. 

Nhiệt độ dao động trong khoảng 26 - 290C, pH 7,65 - 8,1. Thể tích của hạt biofloc ở nghiên cứu hoàn toàn phù hợp cho sự phát triển tôm nuôi.

 

Kết quả

Sử dụng khoai lang để thay thế 10% thức ăn công nghiệp khi nuôi tôm thẻ chân trắng trong hệ thống biofloc cho kết quả tốt về tỷ lệ sống, tăng trưởng, giảm giá thành và đồng thời chất lượng của tôm thương phẩm được cải thiện.

Cụ thể:

Sau 90 ngày nuôi, ở nghiệm thức thay thế 10% khoai lang có tỷ lệ sống cao nhất (72,2%) so nghiệm thức đối chứng (68,9%), thay thế 20% khoai lang (63,7%) và thay thế 30% khoai lang (70,4%).

Chi phí thức ăn của nghiệm thức thay thế 10% khoai lang là thấp nhất (51.111 đồng/kg tôm) trong khi, ở nghiệm thức thay thế 30% khoai lang là cao nhất (55.838 đồng/kg tôm).

Đánh giá cảm quan về chất lượng của tôm cho thấy, tôm có mùi tanh đặc trưng hơn so các nghiệm thức còn lại. Khi hấp chín, ở nghiệm thức thay thế bằng khoai lang tôm đều có màu sắc và mùi vị tốt hơn nghiệm thức đối chứng. Màu sắc của tôm nuôi càng đậm khi thay thế lượng khoai lang tăng và khi tôm luộc chín thì ở nghiệm thức đối chứng có màu đỏ nhạt hơn so các nghiệm thức khoai lang (Yu et al. 2003).

Kết quả của việc thay thế khoai lang cho tôm ăn trong nghiên cứu này đã cải thiện được màu sắc của tôm nuôi, nguyên nhân do trong thành phần của khoai lang có â -carotene, chúng có tác dụng tạo màu (Pandey et al., 2003).

Việc nghiên cứu ứng dụng khoai lang trong mô hình nuôi tôm theo công nghệ biofloc cho thấy lượng khoai lang được thay thế phù hợp cho sự phát triển và nâng cao chất lượng của tôm thương phẩm. Dựa vào kết quả này, có thể ứng dụng mô hình này với quy mô lớn hơn.

Kim Tiến

 

Hãy là người đầu tiên bình luận cho bài này
loading...