Tăng cường hệ miễn dịch trên tôm thẻ chân trắng

Bởi: Admin

18/04/2019

265

Thời gian gần đây, có nhiều giải pháp giúp tăng cường hệ miễn dịch của tôm theo hướng an toàn sinh học, không những thực hành đơn giản mà còn mang lại hiệu quả cao.

Tăng cường hệ miễn dịch cho tôm theo hướng ATSH cho hiệu quả cao Ảnh: shuterstock

Công nghệ nuôi

Biofloc: Công nghệ nuôi biofloc có thể kích thích hệ miễn dịch không đặc hiệu trên tôm. Theo các nhà khoa học, biofloc có thể được xem như là một cơ chế nhận diện phân tử giúp tôm phản ứng lại bằng cách tiết ra các chất kích thích phản ứng của hệ miễn dịch không đặc hiệu trên tôm. Các phân tử này liên tục kích thích hệ miễn dịch của tôm, do đó có thể có sự tiêu hao năng lượng cho quá trình này nhưng chưa có cơ sở để khẳng định nó có ảnh hưởng đến tăng trưởng hay sức khỏe của tôm hay không. Biofloc liên tục kích thích hệ miễn dịch của tôm, nhưng nó không được kích hoạt cho đến khi có mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể.

Hệ thống nuôi trồng thủy sản tuần hoàn (RAS): Thực tế, chưa có nghiên cứu chính xác nào về việc nuôi tôm trong các hệ thống RAS sẽ tăng cường hệ miễn dịch của tôm. Nhưng các hệ thống RAS thành công đã chứng minh hiệu quả phòng bệnh rõ rệt qua các chỉ tiêu về tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng. Bên cạnh đó, RAS kiểm soát các yếu tố môi trường nước rất chặt chẽ và chi tiết.

 

Sử dụng các chất kích thích miễn dịch

Lòng đỏ trứng gà: Các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã chứng minh lòng đỏ trứng có các dụng kháng Vibrio harveyi và Vibrio parahaemolyticus trên tôm thẻ chân trắng (TTCT), mở ra một tiềm năng to lớn trong biện pháp sử dụng tác nhân sinh học hạn chế khả năng gây hại của hai loài vi khuẩn nguy hiểm này. Trong những năm gần đây, kháng thể lòng đỏ trứng (IgY) đã thu hút sự chú ý đáng kể bởi vì nó có nhiều ưu điểm: ổn định, an toàn, tiết kiệm và chứa nồng độ cao. IgY được sử dụng thành công trong miễn dịch y học và áp dụng cho việc chủng ngừa thụ động ở cả động vật và người. Ở động vật thủy sản, người ta đã chứng minh rằng IgY có hiệu quả trong việc bảo vệ các loài thủy sinh khỏi nhiều loại vi khuẩn gây bệnh như Edwardsiella tarda, Yersinia ruckeri, Aeromonas hydrophila, và V.alginolyticus. Cơ chế kháng khuẩn của IgY thường được coi là sự ức chế sự kết dính của vi khuẩn với tế bào chủ. IgY cụ thể có thể nhận ra và gắn kết các thành phần đặc biệt biểu hiện trên bề mặt vi khuẩn, đây là những nhân tố quyết định cho sự phát triển của vi khuẩn.

Tỏi: Tỏi có chứa allin, một axit hữu cơ; khi bị đập dập sẽ kết hợp với Allicinase có trong tỏi để tạo thành Allicin. Allicin có khả năng kháng khuẩn và nấm. Chất Allicin có khả năng kháng khuẩn bằng 1/5 thuốc Peniciline và bằng 1/10 thuốc Oxytetracycline. Tỏi cũng có công hiệu để trị bệnh sán, giun kim, các bệnh nấm… Cơ chế tác động của Allicin là gây ức chế quá trình tổng hợp protein, DNA và RNA làm chậm quá trình sinh trưởng của vi sinh vật. Trong tỏi còn chứa diallyl disulfide; chất này không những mạnh hơn nhiều hai dòng kháng sinh thường đang dùng trong nuôi trồng thủy sản là Erythromycin, Ciprofloxacin mà còn có tác dụng nhanh hơn. Ngoài khả năng kháng khuẩn, tỏi còn có công hiệu trị các bệnh nấm.

Tinh bột nghệ: Một nghiên cứu của Đại học Kasetsart, Thái Lan về tác động của bột nghệ chiết xuất bằng cồn ethanol lên sự tăng trưởng, kích thích miễn dịch lên TTCT. Ghi nhận tỷ lệ sống của tôm sau 9 tuần ăn với bột nghệ nồng độ 15 g/kg thức ăn bằng cách ngâm trong 1 giờ với Vibrio harveyi nồng độ 106 CFU/ml. Kết quả cho thấy rằng nhóm có chế độ ăn 15 g bột nghệ/kg thức ăn sẽ có hệ miễn dịch tốt nhất. Tinh chất nghệ có thể ức chế được hoạt động của vi khuẩn Vibrio Harvey, V. Cholera, V. parahymolyticus V. alginolytisus, V. vulnificus và V. fluialis với nồng độ ức chế tối thiểu là 0,47, 0,47, 0,94, 0,47, 3,75, 0,47 g/đĩa.

Beta-glucan: Beta-glucan là hợp chất đường liên phân tử được tạo nên từ các đơn phân tử D-glucose gắn với nhau qua liên kết Beta-glycoside. Beta-glucan có tác dụng tăng cường sức đề kháng, chống lại dịch bệnh gây ra bởi các nhóm vi khuẩn gây bệnh, đặc biệt có thể ngăn chặn tác động của virus đốm trắng (WSSV) trên tôm.

Nucleotide: Nucleotide được chiết xuất chủ yếu từ bên trong tế bào nấm men. Những thử nghiệm gần đây cho thấy, khẩu phần ăn có bổ sung nucleotide sẽ hỗ trợ tăng trưởng tối ưu và tăng cường chức năng của các tế bào chuyển hóa như lymphocyte (tế bào bạch huyết, lympho bào), macrophages (các đại thực bào) và tế bào ruột. Tuy nhiên, hiện sản phẩm này vẫn chưa được nghiên cứu kỹ về cách thức hoạt động và hiệu quả.

Synbiotics: Synbiotics được tạo thành dựa trên sự kết hợp giữa Prebiotics và Probiotics. Trong đó, Probiotics chính là những vi khuẩn tốt, có vai trò tăng cường hệ miễn dịch của cơ thể, giúp cơ thể nâng cao khả năng phòng chống bệnh tật. Còn Prebiotics là thức ăn lý tưởng cho các vi khuẩn tốt này sinh trưởng và gia tăng mật độ. Việc bổ sung Synbiotics sẽ giúp cơ thể hình thành một hệ thống vi khuẩn tốt hùng hậu, khỏe mạnh và hoạt động hiệu quả.

Các chiết xuất thảo dược: Hiện nay, thảo dược cũng được xem là một trong những chất kích thích miễn dịch vừa tiết kiệm lại có hiệu quả cao. Nhiều hợp chất có nguồn gốc thực vật được tìm thấy có tác dụng kích thích miễn dịch rõ nét trên tôm nuôi. Trong đó, cây Picrorrhiza (thuộc họ Hoa mõm sói) là loại thảo mộc điển hình trong việc chống stress, kích thích miễn dịch cho tôm (Citarasu và cộng sự, 2006); Cây me rừng cũng có hoạt tính chống ôxy hóa, kháng khuẩn, kháng nấm và kháng viêm; chất amla trong quả me chứa lượng lớn Vitamin C được xem là một chất kích thích miễn dịch; Chiết xuất từ cây cỏ gà có tác dụng giúp tôm sú giảm tới 40% tỷ lệ chết do virus đốm trắng gây ra (Balasubramanian và cộng sự, 2008); Trà xanh, gừng hay cỏ mực, sầu đâu, dạ hoa… cũng đã được chứng minh là những chất kích thích miễn dịch hữu hiệu cho tôm ở các nước châu Á.       

Lê Chinh

Hãy là người đầu tiên bình luận cho bài này