Thiết kế hệ thống nuôi tôm trên cát

Bởi: Admin

10/03/2017

736

Nuôi tôm trên cát là một trong những mô hình phát triển kinh tế hiệu quả. Ðể chủ động nguồn nước cấp trong suốt vụ nuôi yêu cầu người nuôi phải thiết kế hệ thống một cách khoa học và phù hợp. Nếu thiếu kinh nghiệm, sẽ dẫn đến tình trạng ao nuôi và hệ thống cấp nước bị vùi lấp nhanh và gặp nhiều khó khăn trong quá trình nuôi.

Hệ thống nuôi tôm trên cát phải được thiết kế ở khu vực ít gió, cát có hệ thống rừng phòng hộ	 Ảnh: Nam Anh

Hệ thống nuôi tôm trên cát phải được thiết kế ở khu vực ít gió, cát có hệ thống rừng phòng hộ   Ảnh: Nam Anh

 

Thiết kế tổng thể

Hệ thống nuôi tôm trên cát phải được thiết kế ở những khu vực ít gió, cát có rừng che chắn phòng hộ. Ngoài ra vị trí xây dựng hệ thống nuôi tôm trên cát phải gần vùng nước biển, nước không bị ô nhiễm.

Diện tích thích hợp cho mô hình nuôi tôm trên cát thích hợp khoảng 1.000 - 5.000 m2. Trong đó diện tích mặt nước ao nuôi chiếm 60 - 65%; diện tích ao lắng chiếm 25 - 30% , diện tích bờ chiếm 20 - 25%. Ao nuôi nên thiết kế theo hình vuông hoặc hình chữ nhật. Đáy ao bằng phẳng, hơi nghiêng về phía cống thoát nước.

Các thông số của ao nuôi: Diện tích đáy ao tốt nhất trong khoảng 2.000 - 3.000 m², chiều sâu mực nước lớn nhất trong ao 1,5 - 2,0 m, tốt nhất là 1,5 m.

Độ cao an toàn từ mực nước đến bờ 0,5 - 0,6 m. Nếu bờ ao bằng tấm bê tông thì nên thiết kế hệ số mái bằng khoảng 2, nếu bờ ao làm bằng đất xét thiết kế hệ số mái khoảng 2 - 2,5. Bề rộng bờ ao khoảng 3 - 3,2 m. Độ dốc đáy ao về nơi tháo cạn ao khoảng 1 - 2%.

 

Chống thấm

Nếu gần khu vực nuôi tôm trên cát có nhiều đất sét, có thể tận dụng để phủ mái, đáy và bờ ao một lớp đất sét dày 30 - 50 cm. Biện pháp này bảo đảm được chống thấm, tận dụng được vật liệu tại chỗ nên giá thành thấp và công trình cũng bảo đảm ổn định lâu dài, nếu công tác quản lý ao tốt .

Lót đáy và mái bờ ao bằng vải nylon chống thấm, mái bờ tăng cường thêm một lớp vải bạt nylon chống sóng. Đây là phương pháp phổ biến nhất, giá thành xây dựng thấp, nhưng độ bền không cao, khi có sự cố rách, thủng lớp nylon rất khó xác định vị trí để sửa chữa.

Gia cố chống sóng và chống thấm mái và bờ ao bằng bê tông đổ tại chỗ. Chiều dày lớp bê tông 7 - 10 cm. Phương pháp này có tuổi thọ cao, độ an toàn lớn, tuy nhiên vốn đầu tư ban đầu lớn.

 Xem thêm bài viết:

 >> Một số mô hình nuôi tôm giúp đem lại hy vọng mới cho người dân
 >> Mô hình và cách nuôi tôm hùm trong bể đang được sử dụng phổ biến
 >> Áp dụng mô hình nuôi tôm nước tĩnh bền vững lâu dài

 

Ao lắng

Việc bố trí ao chứa lắng là cần thiết để lắng đọng các chất bẩn, xử lý độ mặn... Diện tích chiếm đất ao chứa lắng bằng 25 - 30% diện tích các ao nuôi. Để trữ được nhiều nước, chiều sâu mực nước ao lắng được thiết kế tối đa. Cao trình đáy ao lắng  phải cao hơn cao trình đáy ao nuôi 0,3 - 0,5 m.

Trong trường hợp dùng lại nước ao nuôi cần thiết kế ao giữ nước thải, kích thước bằng 25 - 30% dung tích các ao nuôi. Thường thiết kế chiều rộng đáy ao 30 m, chiều dài đáy ao bằng 60 m, chiều cao mực nước là 1,5 m. Cao trình đáy ao thấp hơn cao trình đáy ao nuôi 0,3 m. Độ dốc bề mặt của ao nghiêng về phía ống xả đáy khoảng 1%.

 

Công trình phụ trợ

Bờ ao: Mặt trên của bờ ao rộng 3 m, hai bên lát bê tông (60 x 60 x 6) cm, ở giữa bờ ao chừa 1 khoảng rộng 80 cm để trồng cây.

Giếng chứa nước mặn: Có đường kính 1 - 2 m, vị trí đặt giếng cách mực nước biển 1,5 - 2 m. Đường ống dẫn nước từ biển vào giếng có đường kính phụ thuộc vào lưu lượng trạm bơm. Đoạn đầu ống dùng bao tải bện sợi gai, đựng đầy cát, buộc tròn dưới đáy ống làm bệ đỡ mềm. Thành giếng dày khoảng 20 cm.

Trạm bơm và đường ống dẫn nước: Trạm bơm đặt ở vị trí ổn định, bão cấp 12 trở lên, sóng biển không lên tới, mỗi trạm có 2 máy bơm, trong đó có 1 máy dự trữ. Đường ống đẩy là hệ thống dẫn nước đến trực tiếp các ao chứa lắng.

Hệ thống cấp nước và tiêu nước: Hai hệ thống cấp nước và tiêu nước, có thể nhập lại thành 1 hệ thống chung, nhưng phải có phương pháp quản lý và hệ thống van điều khiển phù hợp; thay nước và cấp nước phải được tổ chức luân phiên từ trên xuống dưới. Nước thải của ao nuôi tôm được đưa về ao chứa nước thải, tại đây được xử lý sơ bộ, lắng đọng các chất và sau đó đưa về phía gần biển để xử lý đợt cuối cùng. Bằng cách cho nước thải thấm qua lớp cát gần biển, nhờ lớp cát này lọc lại lần cuối, nước thải sẽ được từ từ thấm ra biển nơi được quy định xa trạm bơm cấp nước cho các ao nuôi tôm.

Hệ thống cấp khí: Tất cả các ao đều bố trí hệ thống cấp khí là dàn máy đập,  mỗi ao có từ 1 - 4 dàn ngoài ra một số ao sử dụng hệ thống sục khí đáy.

 

Gia Phong

Hãy là người đầu tiên bình luận cho bài này
loading...