Thức ăn giá rẻ từ phụ phẩm cá rô phi

Bởi: Admin

25/09/2019

333

Phụ phế phẩm cá rô phi cung cấp protein thay thế với giá rẻ hơn bột cá, giúp tiết kiệm đáng kể chi phí thức ăn trong nuôi tôm.

Các nhà khoa học thuộc Đại học Nông nghiệp Semi-Arid (UFERSA) và Đại học Santa Catarina tại Brazil đã nghiên cứu cách sử dụng các phụ phế phẩm trong ngành chế biến cá rô phi, và ủ chua nguyên liệu này để bổ sung vào các khẩu phần ăn của tôm nuôi tại hệ thống nước sạch (CWS) hoặc biofloc (BS). Mục đích của nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của phế phẩm cá rô phi ủ chua (TPWS) với tôm thẻ nuôi trong hệ thống nước sạch hoặc biofloc.

Tận dụng phế phẩm cá rô phi

Nuôi tôm thẻ bằng hệ thống biofloc ngày càng thu hút sự quan tâm của đông đảo người nuôi tôm trên toàn thế giới. Công nghệ biofloc cho phép nuôi mật độ lớn trên cùng diện tích mà chỉ cần ít hoặc không trao đổi nước. Hệ thống này giúp nâng cao an toàn sinh học, đặc biệt với những trang trại ở các vùng nuôi mật độ cao và nguồn nước hạn chế. 

Lựa chọn thức ăn phù hợp với từng giai đoạn của tôm giúp nâng cao hiệu quả sản xuất   Ảnh: VM

Phế phẩm cá rô phi ủ chua có thể thay thế bột cá trong thức ăn tôm

 

Trong khi đó, bột cá không bền vững là một trong những nguyên liệu thức ăn đắt tiền nhất. Ngành NTTS đang có xu hướng giảm sử dụng hoặc thay thế hoàn toàn bột cá bằng các nguyên liệu thức ăn khác bền vững hơn. Tuy nhiên, một số nguyên liệu thức ăn thay thế lại có nhiều nhược điểm như thiếu các axit amin thiết yếu, khó tiêu hoặc làm thức ăn kém hấp dẫn, không dẫn dụ tôm và chứa các yếu tố kháng dinh dưỡng. Nhưng ngành dinh dưỡng cũng tìm ra được một số thành phần thức ăn thay thế bột cá thành công, gồm các nguồn protein thực vật hoặc khoáng chất. 

Cá ủ chua có thể được sản xuất bằng các loại phụ phế phẩm trong ngành chế biến thủy hải sản. Đây là một nguồn protein thay thế bột cá nhưng phương pháp sản xuất lại đơn giản và rẻ hơn. Sử dụng cá ủ chua làm protein thay thế trong thức ăn thủy sản còn giúp giải quyết vấn đề môi trường và vệ sinh bắt nguồn từ việc xử lý chất thải của nhà máy chế biến không triệt để. Hơn nữa, đây cũng là một cách giảm chi phí thức ăn, và cuối cùng giảm chi phí sản xuất bởi chi phí thức ăn chiếm 60% tổng chi phí đầu vào. Nguồn lợi cá rô phi lại dồi dào trên phạm vi toàn cầu, đã được khoa học chứng minh nhiều kết quả tích cực khi sử dụng như phụ phẩm ủ chua trong các khẩu phần ăn của vật nuôi thủy sản. Tuy nhiên, hiện chưa có thông tin khoa học về sử dụng TPWS với tôm trong hệ thống biofloc.  

Tôm tăng trưởng tốt

Nhóm nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm trên tôm thẻ giống nuôi trong hệ thống biofloc hoặc nước sạch với mật độ 63 PL/m2 trong 45 ngày theo một trong 5 khẩu phần. Những khẩu phần ăn của tôm trong 2 hệ thống này đều là chế độ ăn đủ năng lượng và đủ protein được bổ sung TPWS theo các tỷ lệ 0%; 1,5%; 3%; 4,5% và 6%. 

TPWS được chế biến từ phụ phẩm trong quá trình sản xuất fillet cá rô phi gồm đầu, xương, da, vây và nội tạng. Cá ủ chua được sấy khô, nghiền nhỏ và cân bằng pH trước khi sử dụng trong các khẩu phần thử nghiệm. TPWS chứa 83,8% vật chất khô, 33,7% protein thô, 37,4% lipid thô và 21,5% tro. Các thông số chất lượng nước được kiểm tra 2 lần/ngày. Toàn bộ tôm được cân trọng lượng lúc bắt đầu và kết thúc thử nghiệm. Trọng lượng thân cuối, tỷ lệ tăng trưởng riêng (SGR), tỷ lệ sống và tỷ lệ biến đổi thức ăn cũng được xác định. 

Kết quả cho thấy, hệ thống nuôi và khẩu phần ăn không có mối tương quan nào. Tỷ lệ sống của tôm vẫn duy trì trên 85% tất cả các nghiệm thức và hệ thống nuôi. Nhưng FCR của tôm nuôi trong hệ thống biofloc thấp hơn. Trọng lượng cuối trung bình và SGR của tôm thay đổi theo hệ thống nuôi, nhưng không liên quan đến khẩu phần ăn đã sử dụng, và cao hơn khi tôm được nuôi trong hệ thống biofloc. Tuy nhiên, tôm ăn TPWS theo tỷ lệ cao nhất lại có xu hướng đạt trọng lượng cuối cao nhất và SGR lớn nhất. 

Dù tôm nuôi trong hệ thống biofloc hay nước trong, thì người nuôi vẫn có thể bổ sung phụ phẩm cá rô phi ủ chua theo tỷ lệ cao nhất 6% mà không ảnh hưởng đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm. Trong điều kiện nuôi biofloc, tôm đạt hiệu suất tăng trưởng tốt hơn so với nuôi trong hệ thống nước trong, có thể do tôm tiếp tục được cung cấp các loại thức ăn tự nhiên như vi tảo, copepods, luân trùng... Những vi sinh vật này giàu chất béo, vitamin và axit amin thiết yếu. 

Dũng Nguyên

(Theo Aquaculture and Fisheries)

Hãy là người đầu tiên bình luận cho bài này