Tôm sú

Bởi: Admin

20/02/2019

222

Tôm sú sống ở các bờ biển của Australia, Đông Nam Á, Nam Á và Đông Phi. Tương tự như tất cả tôm penaeid, chủy cũng phát triển và có răng cưa.

Tên tiếng anh: Giant tiger prawn

Tên khoa học: Penaeus monodon

Tên gọi khác:

Penaeus carinatus, Asian tiger shrimp

Phân loại

Ngành: Arthropoda

Lớp: Malacostraca

Bộ: Decapoda

Họ: Penaeidae

Giống: Penaeus

Loài: Penaeus monodonFabricius, 1798

Đặc điểm

Tôm sú cái: Buồng trứng nằm dọc theo mặt lưng phía trên, hai ống dẫn trứng mở ra ở khớp háng đôi chân ngực thứ 3. Bộ phận chứa túi tinh gồm 2 tấm phồng lên ở đôi chân ngực thứ 4 và thứ 5 dưới bụng tôm (Thelycum). Petasma trong tôm đực đối xứng với thùy mỏng trung bình. Tùy thuộc vào tầng nước, thức ăn và độ đục, mà màu sắc cơ thể khác nhau từ màu xanh lá cây, nâu, đỏ, xám, xanh. Lưng xen kẽ giữa màu xanh hoặc đen và màu vàng. Tôm thành thục có thể đạt đến 33 cm chiều dài và tôm cái thường lớn hơn tôm đực.

 

Phân bố

Phân bổ tự nhiên của loài này là khu vực Ấn - Tây - Thái Bình Dương, trải từ bờ đông châu Phi, bán đảo Ả Rập, đến tận Đông Nam Á và biển Nhật Bản. Ở đông Australia cũng có loài này và một lượng nhỏ tôm sú cũng đi vào Địa Trung Hải qua kênh đào Suez. Ngoài ra, còn có ở Hawaii và bờ biển Đại Tây Dương của Mỹ (Florida, Georgia và Nam Carolina). Tại Việt Nam, tôm sú phân bố rộng từ Bắc đến Nam, từ ven bờ đến vùng có độ sâu 40 m.

 

Đặc điểm sinh học

Tôm sú là loài sống ở nơi chất đáy là bùn pha cát với độ sâu từ ven bờ đến 40 m nước và độ mặn 5 - 34‰. Tôm sú có đặc điểm sinh trưởng nhanh, trong 3 - 4 tháng có thể đạt cỡ bình quân 40 - 50 g/con. Tôm trưởng thành tối đa với con cái có chiều dài là 220 - 250 mm, trọng lượng 100 - 300 g/con. Con đực dài 160 - 210 mm, trọng lượng 80 - 200 g/con. Tôm có tính ăn tạp, thức ăn ưa thích là thịt các loài nhuyên thể, giun nhiều tơ (Polycheacta) và giáp xác.

 

Khai thác

Tôm sú khai thác ngoài biển sản lượng hạn chế, mùa đánh bắt từ tháng 1 đến tháng 11. Khai thác bằng ngư cụ chủ yếu là lưới kéo tôm.

Nuôi: Tôm sú được nuôi ở hầu khắp các tỉnh ven biển trong cả nước.

Vụ thu hoạch: Rải rác từ tháng 4 đến tháng 9. Chính vụ sản lượng cao nhất vào các tháng 5, 6, 7.

Hình thức nuôi: Thâm canh (công nghiệp) (TC), bán thâm canh (BTC) và quảng cảnh cải tiến (QCCT). Tôm sú nuôi trong các ao đầm nước lợ ở cả vùng cao và vùng trung triều. Một số nơi nuôi xen kẽ vụ lúa, vụ tôm và nuôi chung với cua và rong câu. Khu vực phía Bắc nuôi QCCT và BTC là chủ yếu. Miền Trung nuôi BTC và TC. Các tỉnh phía Nam nuôi BTC và QCCT.

 

Hiện trạng xuất khẩu

Có khoảng 300 doanh nghiệp chế biến tôm xuất khẩu. Khối lượng xuất khẩu tôm sú hằng năm đạt khoảng 70.000 - 80.000 tấn, giá trị khoảng 600 - 800 triệu USD.  Thị trường xuất khẩu chính là Mỹ, theo sau là Nhật Bản, châu Âu và một số nước châu Á khác.

 

Thành phần dinh dưỡng

- Tôm sú được chế biến chủ yếu 2 dạng sản phẩm:

+ Tôm sơ chế đông lạnh tươi: Nguyên con và bóc vỏ

+ Tôm chế biến sẵn: Sản phẩm giá trị gia tăng và các sản phẩm phối chế khác.

- Các hình thức đông lạnh sản phẩm: Đông Block và đông IQF hoặc semi -block hay semi-IQF.

- Tôm thường được phân cỡ theo số đếm (count) con/kg đối với tôm nguyên nguyên liệu, còn  đối với các sản phẩm đóng gói khác thường được phân cỡ theo số con/Lb (pao), có từ các cỡ (size) U5, 6/8, 8/10 hay 8/12, 13/15, 16/20, 21/25, 26/30, 31/35, 31/40, 36/40, 41/50, 51/60, 61/70, 71/90, 90/120, 120/200, 200/300, 300/500 và vụn.

Hãy là người đầu tiên bình luận cho bài này