Xử lý ao hiệu quả trước vụ nuôi

Bởi: Admin

03/07/2019

358

Cải tạo ao là bước chuẩn bị các điều kiện thích hợp cho vụ tôm tiếp theo. Công đoạn này giúp người nuôi chủ động xử lý những vấn đề xảy ra trong quá trình nuôi, tiết kiệm được chi phí vận hành sản xuất và góp phần hạn chế dịch bệnh trên tôm.

Làm sạch đáy ao sau mỗi vụ nuôi Ảnh: DH

Phơi ao, làm đất, bón vôi

Sau mỗi vụ nuôi, ao thường tích tụ các hạt sét bị xói mòn từ đất và chất hữu cơ có nguồn gốc từ sinh vật phù du chết, thức ăn thừa, phân tôm. Để làm sạch đáy ao, có thể sử dụng máy bơm thủy lực với ống áp lực cao hút hoặc đẩy chất thải ra khỏi ao khi đáy ao ướt hoặc sử dụng máy đào sau khi đáy khô.

Việc loại bỏ trầm tích sau mỗi vụ nuôi là cần thiết. Các ao trống thường được phơi khô dưới ánh mặt trời trong hai tuần trở lên. Bước này giúp làm giảm độ ẩm của đất đủ để tiêu diệt hầu hết các sinh vật (bao gồm cả các sinh vật gây bệnh) còn lại trong ao sau khi thoát nước. Người nuôi có thể sử dụng máy cày hoặc máy bừa để phá vỡ khối đất, tăng khả năng tiếp xúc của đất với không khí và tăng tốc độ làm khô. Tuy nhiên, việc phơi khô toàn bộ đáy ao là điều không thể, đặc biệt là trong mùa mưa. Bởi một số ao có bề mặt gồ ghề với những chỗ đất lún giữ nước lâu trong khi phần còn lại của đáy đã khô. Hay một số ao cũng có thể không khô tốt do sự xâm nhập của nước ngầm từ các ao hoặc kênh lân cận.

Để khắc phục tình trạng trên, người dân đã sử dụng vôi tôi hoặc vôi ngậm nước bón vào đáy ao với liều cao giúp làm tăng pH đất đủ để tiêu diệt các sinh vật không mong muốn bao gồm cả các sinh vật gây bệnh. Liều lượng bón cho hiệu quả cao là tối thiểu 3.000 kg/ha (300 g/m2) vôi tôi hoặc 4.000 kg/ha (400 g/m2) vôi ngậm nước. Quy trình tốt nhất có thể là làm khô đáy ao và xử lý vôi cho các khu vực đáy không khô. Calcium hypochlorite Ca(ClO)2 - chất khử trùng Chlorine, là một hỗn hợp chất gồm vôi và Canxi clorua được áp dụng trên các khu vực ẩm ướt cho mục đích khử trùng, liều lượng khoảng 100 - 200 g/m2. Đồng sulfat, Formalin và Kali permanganat (thuốc tím) cũng đã được sử dụng, nhưng hiệu quả không cao.

 

Cấp nước, khử trùng

Nước cấp vào ao được thông qua túi lọc hoặc lưới lọc để loại bỏ các sinh vật không mong muốn. Mặc dù quá trình lọc sẽ làm giảm khả năng cá và các sinh vật kích thước lớn khác xâm nhập vào ao, nhưng nó sẽ không ngăn được sự xâm nhập của nhiều sinh vật gây bệnh. Bởi vậy, cách hiệu quả nhất là cần cung cấp nước là khử trùng. Chất khử trùng được áp dụng cho nước trong ao lắng hoặc được thực hiện trực tiếp trong các ao nuôi. Một loạt các chất khử trùng như Canxi hypochlorite, Chloramine T, Kali permanganat, Đồng sulfat, Hydro peroxide, hợp chất iốt, Benzalkonium clorua và Glutaraldehyd được sử dụng. Tuy nhiên, hiệu quả nhất có lẽ là Canxi hydochlorite ở nồng độ 20 - 30 mg/L.

 

Gây màu và thả giống

Tôm postlarval có thể sử dụng thức ăn công nghiệp, nhưng chúng được hưởng lợi rất nhiều từ các sinh vật tự nhiên trong một vài tuần sau khi thả. Ao nên được gây màu để khuyến khích sự phát triển của thực vật phù du, động vật phù du và sinh vật đáy trước khi thả giống. Sử dụng urê và supe lân hoặc các loại phân bón thương mại khác để thúc đẩy sự phát triển của thực vật phù du.

Tuy nhiên, việc sử dụng kết hợp một loại phân hữu cơ với phân bón thương mại sẽ dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng của động vật phù du và sinh vật đáy hơn là chỉ sử dụng phân bón thương mại. Và cách tốt hơn là áp dụng bột đậu nành, thức ăn tôm, cám gạo hoặc một số chất hữu cơ chất lượng cao khác. Tỷ lệ điển hình là 6 đến 8 kg nitơ (12 - 18 kg urê/ha), 1 đến 2 kg phốt pho (5 đến 10 kg supe lân/ha) và khoảng 100 - 200 kg phân hữu cơ/ha chất lượng cao. Cần thực hiện lặp lại nhiều lần đến khi ao nuôi xuất hiện màu nước đẹp. Việc gây màu có thể phải được tiếp tục trong khoảng thời gian hai đến ba tuần để duy trì sinh vật phù du nở hoa, nhưng một khi tốc độ cho ăn đạt 20 đến 30 kg/ha/ngày, thì không cần gây màu bởi đã có đủ chất dinh dưỡng do thức ăn thừa, phân và bài tiết tôm.

Thanh Hiếu (Theo GAA)

Hãy là người đầu tiên bình luận cho bài này