Xử lý nước thải ao tôm

Bởi: Admin

12/12/2017

394

Phương pháp xử lý nước thải ao tôm bằng công nghệ sinh học an toàn, không sử dụng hóa chất giúp hạn chế ô nhiễm môi trường, góp phần vào phát triển nuôi tôm bền vững.

Tác động

Lượng chất thải sinh ra có liên quan với công nghệ sản xuất thức ăn và hệ thống nuôi tôm. Thức ăn thừa, phân tôm và quá trình chuyển hóa dinh dưỡng là nguồn gốc chủ yếu của các chất gây ô nhiễm. Theo một số kết quả nghiên cứu, chỉ có 15 - 20% thức ăn được dùng để phát triển mô động vật và có tới 15% tổng lượng thức ăn hao hụt do không ăn hết và thất thoát, trong khi đó chỉ có 40 - 45% là được sử dụng vào quá trình chuyển hoá bình thường, duy trì và lột vỏ. Nitơ và photpho là những nguyên tố chủ yếu trong chất thải bắt nguồn từ thức ăn. Ô nhiễm nitơ chiếm tỷ lệ lớn (30 - 40%) từ thức ăn thừa. Theo các chuyên gia, có khoảng 63 - 78% nitơ và 76 - 80% photpho cho tôm ăn bị thất thoát vào môi trường. Tổng khối lượng nitơ và photpho sản sinh trên 1 ha trại nuôi tôm bán thâm canh có sản lượng 2 tấn, tương ứng khoảng 113 kg và 43 kg. Đối với hệ thống nuôi thâm canh thì con số này gấp 7 - 31 lần.

Sự có mặt của các hợp chất carbonic và chất hữu cơ sẽ làm giảm ôxy hòa tan, tăng nhu cầu ôxy sinh hóa (BOD), nhu cầu ôxy hóa học (COD), hydro sulfua, ammonia và hàm lượng CH4 trong lưu vực tự nhiên. Cùng đó là hạ tầng phục vụ trong nuôi tôm chưa hoàn chỉnh, nhiều khu nuôi chưa có kênh cấp, kênh xả riêng biệt, thậm chí nhiều đoạn kênh bị bồi lắng, đáy kênh cao hơn đáy ao nuôi tôm. Hậu quả là mầm bệnh tồn lưu và có khả năng lây nhiễm cho môi trường bên ngoài rất cao.

 

Giải pháp

Sử dụng hệ vi sinh vật

Là dựa vào khả năng sống và hoạt động của vi sinh vật trong nước để phân hủy các chất gây ô nhiễm hữu cơ trong nước. Những vi sinh vật này sử dụng một số hợp chất hữu cơ, chất khoáng và muối dinh dưỡng làm nguồn thức ăn và tạo ra năng lượng cho chúng phát triển. Tùy thuộc vào tính chất hoạt động của vi sinh vật, quá trình sinh học có thể xảy ra trong điều kiện hiếu khí hoặc kỵ khí.

Phương pháp hiếu khí: sử dụng các vi sinh vật hiếu khí để xử lý. Nhóm nghiên cứu Phan Thị Hồng Ngân và Phạm Khắc Liệu (Đại học Huế) ứng dụng công nghệ xử lý hiếu khí với lớp đệm ngập nước (Submerge Aerated Fixed Bed - SAFB), sử dụng bùn hoạt tính hiếu khí đã thích nghi, xử lý tốt nước thải nuôi trồng thủy sản nước lợ với hiệu suất loại bỏ COD đạt 73,7%, loại N-NH4 đạt 97,4%.

Phương pháp kỵ khí: sử dụng nhóm vi sinh vật kỵ khí để xử lý. Đây là phương án thường được sử dụng để xử lý nước thải, đặc biệt thông dụng là bể kỵ khí kiểu đệm bùn dòng chảy nghịch (Upflow Anaerobic Sludge Blanket - UASB). Công nghệ này phân phối nước thải từ dưới lên, qua lớp bùn kỵ khí để tiến hành quá trình phân hủy chất hữu cơ bằng các vi sinh vật kỵ khí. Hệ thống tách pha phía trên sẽ tách các pha rắn - lỏng - khí để tách các chất khí, chuyển bùn xuống đáy bể và dẫn nước sau xử lý ra ngoài. Theo kết quả nghiên cứu của Natella Mirzoyan và Amit Gross, bể phản ứng UASB ứng dụng tốt trong xử lý nước thải nuôi thủy sản nước lợ, giảm 81% chất rắn lơ lửng (TSS), 98% COD, 92% chất dễ bay hơi.

Sử dụng hệ động thực vật

Việc hấp thụ các chất ô nhiễm cũng được thực hiện dựa trên cơ sở quá trình chuyển hóa vật chất trong hệ sinh thái thông qua chuỗi thức ăn. Thông thường, có thể sử dụng thực vật phù du, tảo hay rong để hấp thụ nitơ, photpho và cacbon,… trong nước thải để tăng sinh khối.

Theo kết quả nghiên cứu của Phân viện Khoa học vật liệu Nha Trang, rong sụn có khả năng hấp thụ một lượng muối amôn rất lớn với tốc độ cao. Chỉ sau 24 giờ, với mật độ rong 400 g/m2, hàm lượng amôn trong nước giảm trên 20%. Ðến ngày thứ 5 lượng amôn giảm đi hơn 80% và đến ngày thứ 10, amôn chỉ còn 10% so với ban đầu. Ðối với phosphate, sau 24 giờ rong sụn hấp thụ được từ 30 - 60%. Nghiên cứu của Ngô Thị Thu Thảo và cộng sự cho thấy, rong sụn giúp cải thiện chất lượng môi trường và nâng cao chất lượng tôm thẻ chân trắng, sinh khối rong ở mức 400 - 800 g/m3 là phù hợp cho mô hình nuôi kết hợp.

Trong chuỗi thức ăn, người ta cũng dùng các loài động vật như nghêu, sò huyết,  vẹm, hàu… để tiêu thụ thực vật phù du và cải thiện điều kiện trầm tích đáy hay các loài cá ăn thực vật phù du và mùn bã hữu cơ như cá măng, cá đối, cá rô phi,...

Sử dụng hệ đất ngập nước

Là giải pháp có thể ứng dụng ở những nơi có nhiều diện tích đất trống. Nguyên lý thực hiện dựa vào sự cộng sinh giữa vi sinh vật và thực vật để xử lý nước, thông qua các quá trình phân hủy kỵ khí hay hiếu khí của vi sinh vật và quang hợp của thực vật.

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thảo Nguyên và cộng sự (Đại học Cần Thơ) về khả năng xử lý nước nuôi thủy sản thâm canh bằng hệ thống đất ngập nước kiến tạo cho kết quả là hệ thống đất ngập nước chảy ngầm đứng (VF) có nồng độ N-NH4, tổng nitơ (TN), P-PO4 và tổng phốtpho (TP) trong nước bể nuôi thấp hơn so với hệ thống chảy ngầm ngang (HF). Ngoài ra, hệ thống VF giúp cải thiện điều kiện ôxy trong nước bể nuôi, có thể loại bỏ 74% nitơ và 69% photpho, trong khi hệ thống HF loại bỏ được 86% nitơ và 72% photpho. Rừng ngập mặn là hệ sinh thái đất ngập nước, có thể sử dụng như bể lọc sinh học cho các chất ô nhiễm do nuôi trồng thủy sản ven biển. Nghiên cứu của Dominique Gautier và cộng sự về việc sử dụng các vùng đất ngập nước mặn như lọc sinh học để xử lý chất thải từ trang trại nuôi tôm 286 ha ở Colombia cho thấy, nước thải trang trại được tái tuần hoàn một phần qua một rừng ngập mặn 120 ha. Sau 3 tháng, hàm lượng chất rắn lơ lửng, lượng ôxy hòa tan và độ pH giảm đáng kể.

Diệu Châu

Hãy là người đầu tiên bình luận cho bài này